Ngày 24 Tháng Mười Một: Thánh Anrê Trần Dũng Lạc và các bạn tử đạo

Trên đường chạy trốn cơn bách hại khủn khiếp cảu bạo Chúa Nê-rông đang giáng xuống khinh thành Rô-ma, vị tông đổ trưởng Phê-rô đã bang hoàng thốt lên câu hỏi trên, khi bất ngờ gặp Chúa Giê-su vác Thập Gía đi ngược chiều với mình. Phê-rô lặng ngừoi đi và chợt hiểu … Vị sứ đồ đã ra đi để xa lánh cơn điên cuồng của một bạo Chúa, vì những lời nài nỉ chí tình, chí thiết của đoàn tính hữu. Họ coi ngài là sức mạnh, là hơi thở, là chỗ dựa. Cần phải sống để tiếp tục mưu ích cho đoàn chiên. Thế là, trong cái khoảng khắc kỳ diệu đó, thánh Phê-rô chợt nhớ ra. Để rồi, thay vì những bước chân rời rã, do dự chạy trốn; giờ đây, ngài bước một cách mạnh mẽ, dứt khoát quay lại… để có thể trở nên giống Thầy mình. Từ đó, trên tảng đá Phê-rô, Rô-ma trở nên kinh thánh muôn thuở, Đâu có ai thời đó đã nghĩ ra như thế! Vâng, đâu có ai thời đó đã hiểu được điều ấy!

 Sau lần bị bắt thứ ba, cha An-rê Dũng Lạc như cảm nhận  được bài học của thánh Phê-rô. Ý nghĩ con người không hẳn đã phù hợp với ý Chúa. Ngài đã xin  tín hữu đừng chuộc ngài nữa, ngài đã chấp nhận hy sinh chính bản thân  để trở nên một ngọn đèn khác, làm chứng cho Chúa tren quê hương yêu dấu này. Sinh ra trong một gia đình ngoại giáo ở Bắc Ninh năm 1795, Trần An Dũng theo cha mẹ vào Kẻ Chợ - nay là Hà Nội. 

Tại đây, vì nhà nghèo, cậu được gán cho một thẩy giảng nuôi nấng, dạy dỗ và rửa tội với tên Thánh là An-rê. Ít lâu sau, cậu Dũng xin vào chủng viện Vĩnh Trị, ở với cha Tổng Đại diện Lan. Ngay từ đó, cậu Dũng siêng năng, cẩn mẫn, có khiếu về thơ phú và giao tiếp với mọi người cách lịch thiệp, hòa nhã. Có người nói rằng cậu chỉ đọc qua một đoạn sách hai lần là đã thuộc. Sau 10 năm làm thầy giảng và 3 năm thần học ngày 15/3/18823, thầy Dũng được lãnh chức linh mục, rồi được bổ nhiệm làm phó xứ Đồng Chuối giúp cha Khiết. sau đó, về giúp cha Thi ba năm ở xứ Đoàn, rồi lại giúp cha Thuyết ở Sơn Miêng. Cuối cùng, khi chánh xứ Kẻ Đầm thì bị bắt. Suốt cuộc đời linh mục, cha Dũng sống rất nhiệm nhặt. Ngoài nhưng ngà ăn chay theo luật của Giáo Hội, thứ sáu, thứ bảy quanh năm. Khi lệnh bách hại của vua Minh Mnạg trở nên gay gắt, qua chiếu chỉ toàn quốc ngay 6/1/1833, cha phải ẩn náu tại cá nhà bổn đạo, sau trốn lên Kẻ Roi và lập nhà xứ ở đó. Lần thứ hai, cha bị bắt khi đến Kẻ Sông xưng tội với cha Thi, theo thói quen hàng tháng. Lý trưởng Pháp bắt được hai linh mục và mặc cả với giáo hữu phải chuộc với giá 200 quan. Các tín hữu gom góp được 100 quan nên viên Lý trưởng chỉ tha cha Lạc. Thế nhưng, ngay trên đường về, vì gặp mưa gió, thuyền cha phải ghé vào bờ. Căn nhà cha đang trú, lại đang bị quân lính khám xét. Thế là cha bị bắt lần thứ ba và bị giải lên huyện Bình Lục cùng với cha Thi. Một lần nữa, giáo huwx cùng Đức Cha Rơ-to Liêu tìm cách chuộc hai cha về, nhưng lần này cha Lạc thấy ý Chúa đã định cho mình, ngià nhắn về Đức Cha câu chuyện thánh Phê-rô hai lần thoát khỏi ngục, lần thứ ba, Chúa Giê-su đã yêu cầu ở lại tử đạo tại Rô-ma và xin đừng cá tín hữu đừng lo liệu tiền chuộc làm chi nữa. Tại Hà Nội, sau mấy lần tra hỏi và dọa nạt hai vị chứng nhân Đức Ki-tô không thành công, cá quan làm an xin vua xử án. Thời gian trong tù, hai cha chiếm được tình cảm của lính gác, được tôn trọng và đối xử tử tế. Khi nhận được quà tiếp tế, hai cha chia cho lính canh, chỉ giưc lại những thứ tối thiểu. Mội buổi sáng và mỗi buổi tối, hai cha quỳ bên nhau cầu nguyện lâu giờ. Tuy cá tín hữu xin được phép đưa cơm vào tù mỗi ngày, hai cha vẫn tìm cách hãm mình, dặn dò đừng mang thịt hay cá làm chi. Các ngài vẫn tiếp tục giữ chay ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu và thứ bảy: những ngày đó, hai cha ăn rất ít, vừa đủ. Sau năm 1839, khi quân lính đến công bố lệnh xử bắn, hai cha vui vẻ đón nhận bản án như một phần thưởng trọng hậu. Trên đường đến pháp trường, hai cha yên lặng cầu nguyện. Lúc ra khỏ cổng thành, cha Lạc chấp tay lại, hát lớn tiếng mấy câu La-tinh chúc tụng Chúa. Trước phút hành quyết, người lý hình đến nói với cha: “Chúng tôi không biết các thầy có tội gì, chúng tội chỉ làm theo lệnh trên, xin các thầy đừng chấp!”. 

Hai vị đã lãnh phúc tử đạo ngày 21/12/1839 tại bãi ngoài cửa ô Cầu Giấy (Hà Nội, giáp đường lên tỉnh Sơn Tây. Thi hài của cha Lạc được đưa về an táng tại nhà bà Lý Qúy gần đó. Đức Giáo Hoàng Lê-ô XII tôn phong Chân Phước cho linh mục An-rê Trần An Dũng lạc ngày 27/5/1900. Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II tôn phong Chân Phước An-rê Trần An Dũng Lạc lên bậc Hiển Thánh ngày 19/6/1988.


Nhóm Niềm Tin - Giáo xứ Kim Phát

Ngày Đăng:2011-11-24 Lần Xem:503