CHÂN DUNG ĐỨC GIÊSU THEO BỐN TÁC GIẢ TIN MỪNG VÀ PHAOLÔ (P2)

ĐỨC GIÊSU CỦA MÁTTHÊU
LÀ ĐỨC CHÚA SỐNG TRONG CỘNG ĐOÀN

                Với Máccô, trước hết chúng ta khám phá con người Giêsu, Mátthêu đặt chúng ta trước một Đức Giêsu là Chúa vinh hiển, được cử hành trong cộng đoàn. Các môn đệ quỳ gối thờ lạy Chúa Phục sinh (28,17) như các nhà đạo sĩ (2,2.11), như người phong cùi, như viên bách quân đội trưởng, như các môn đệ trong cơn phong ba bão táp, trong khi người ta chỉ phục lạy một mình Thiên Chúa mà thôi (4,10).

               Vì chưng, bằng cuộc Phục sinh, Đức Giêsu thực sự là Thiên- Chúa- ở-cùng-chúng-ta: Danh xưng Emmanuel (Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta) được công bố khi Người sinh ra (1,23) chỉ được gắn cho Người vào ngày Phục sinh, cũng như chữ cuối cùng trong sách Tin Mừng này: Ta (tương đương với từ Thiên Chúa trong Cựu Ước) ở cùng anh em (28,20).

             Người là Con yêu dấu của Thiên Chúa. Máccô ít sử dụng danh hiệu này và cho chúng ta thấy các môn đệ phải khó khăn như thế nào mới chấp nhận danh hiệu ấy. Nơi Máccô, chính Đức Giêsu tự giới thiệu mình là Con yêu dấu của Thiên Chúa (11,27; 26,63-64) và các môn đệ đã nhiều lần tuyên xưng Người với danh hiệu ấy (ví dụ 14,33; 16,16).

              Do đó, Đức Giêsu của Mátthêu rất long trọng, oai nghiêm. Mát-thêu bỏ đi cái xúc cảm hoặc sự không biết của Đức Giêsu (so sánh Mt 13, 58 và Mc 6,5) và nhấn mạnh trên quyền năng của Người (4,23; 8,24; 15,30). Tuy nhiên, có một lần vị Chúa đó đã tỏ ra rất con người khi xin một chút tình thương của các bạn hữu mình trong giờ hấp hối.

              Đức Giêsu là vị cứu tinh của cộng đoàn. Các phép lạ mặc khải Người như vị Tôi tớ đau khổ của Isaia, Đấng gánh chịu mọi tật nguyền của chúng ta (8,17). Bằng cách hệ thống hóa các trình thuật phép lạ, bằng cách xoá bỏ những cách nhân bản của Đức Giêsu , bằng cách trình bày bà mẹ vợ Phêrô (8,15) hay các môn đệ trong cơn bão táp (8,25) dưới những đường nét của người Kitô hữu thời đại mình, Mátthêu minh chứng rằng Đức Chúa Giêsu tiếp tục hành động cứu độ trong cái hôm nay của cộng đoàn.

           Đức Giêsu là vị Thày của cộng đoàn. Môsê đã ban cho dân một lề luật; Đức Giêsu là Môsê mới, là Đấng đã ban lề luật mới mà cốt yếu là nên trọn lành như Chúa Cha, trên núi Bát phúc và trên núi Phục sinh. Khi đem lề luật mới đến với sự tinh ròng, Người chờ đợi lòng xót thương chứ không phải của lễ (9,13 ; 12,7) và Người đã để lại chính lòng xót thương và sự thứ tha như là lề luật cho Giáo hội của Người (18,21-35). Người muốn các môn đệ thông hiểu trong đức tin, muốn học hiểu, như Người đã đòi hỏi nhiều lần (ví dụ 13,19.23.51; 15,10).

 Đức Giêsu là mẫu mực của cộng đoàn. “Chúng ta phải giữ trọn đức công chính” Người nói với Gioan (3,15) và trong một bản văn riêng của Mátthêu, Đức Giêsu trình bày cuộc sống của Người như con đường duy nhất để đạt tới sự hiểu biết về Chúa Cha (11,27-30).
ĐẤNG MÊSIA CỦA ÍTRAEN

            Đối với Mátthêu, Đức Giêsu là Đấng Mêsia mà Ítraen trông đợi và Thánh Kinh loan báo. Với tư cách là một giáo sĩ Do thái, Mátthêu trích dẫn Thánh Kinh một cách tài tình để minh chứng rằng Đức Giê-su thực hiện những lời Kinh Thánh ấy. Ngài thường gán cho Đức Giêsu những danh hiện chính thức như Đấng Mêsia (Đức Kitô), Con Vua Đavít, Vua Ítraen. Người Do thái không nhìn nhận mà chối từ Người, trong khi viên bách quân đội trưởng và thuộc cấp của ông lại tuyên xưng Người là Con Thiên Chúa. Vì thế, Nước Trời sẽ bị cất đi khỏi hạng người nọ và được ban cho hạng người kia (dụ ngôn những người làm vườn nho 21,41). Đấng Mêsia của Ítraen trở thành Đấng Mêsia của hết mọi người.
CON NGƯỜI

             Trong chiều hướng của các sách Khải huyền (đọc Đn 7), người ta trông chờ Con Người đến phân xử vào cuối thời gian. Đối với Mát-thêu, Đức Giêsu chính là Con Người đó. Người đã long trọng tuyên bố điều đó trước công nghị Do thái và loan báo rằng, rồi đây người ta sẽ thấy Người (26,64). Phục Sinh quả thực là cuộc quang lâm của Con Người, đến trên đám mây (26,64) với các môn đệ đang phủ phục (28,18). Người là Đấng đã lãnh nhận tất cả quyền năng (28,18 xem Đn 7,14). Mátthêu là người duy nhất đã nói đến ngày quang lâm (24,3.7.27.37.39) của Con Người. Ngày quang lâm ấy đối với Mátthêu có nghĩa là thời điểm mà Nước Thiên Chúa được thiết lập trong dòng lịch sử của chúng ta. Điều đó được thực hiện trong biến cố Phục sinh; vì thế ngày quang lâm xảy ra mỗi khi người ta gặp gỡ Con Người hiện diện một cách nhiệm mầu trong những kẻ bé mọn mà Người đã đồng hóa mình với họ (25,31-46).

ĐỨC GIÊSU SAI CỘNG ĐOÀN ĐI

           Được tôn vinh là Con Người, là Đấng phân xử tối cao, là Chúa tể vũ trụ, Đức Giêsu đã chiến thắng trong cuộc chiến đấu cuối cùng. Bây giờ vấn đề là “chiếm hữu địa bàn”: Người sai các môn đệ của mình đi thiết lập chiến thắng trên toàn thế giới. Người đã chuẩn bị họ cho sứ mệnh này (10), nhưng khi đó chính là Người ra đi rao giảng Tin Mừng. Cuộc sai đi thực thụ đã được thực hiện trong ngày Phục sinh (28,18,20).

ĐỨC GIÊSU CỦA LUCA

              Bản thân Luca đã không biết Đức Giêsu. Đấng mà Luca đã khám phá ra, trước hết không phải là một vị ngôn sứ sống đây mai đó của xứ Galilê, nhưng là Đức Chúa được tôn vinh đã tỏ mình ra với Phao-lô, tôn sư ngài trên đường Đamát. Đó là Đấng mà ngài cảm nhận ra gương mặt của Người trong một cộng đoàn như cộng đoàn Philíp-phê, trong đó tình yêu thương mãnh liệt đến nỗi đã khiến cho các bà lớn như Lyđia và những phu bốc vác của hải cảng lân cận, có thể sống trong cùng một niềm hiệp thông. Đó là Đấng mà ngài tìm thấy những đường nét trong những kỷ niệm của các nhân chứng mà ngài đã dò hỏi.

GIÊSU ĐỨC CHÚA

         Thánh Luca là người duy nhất gọi Đức Giêsu là Chúa. Khi nói về Người, vinh quang Phục sinh tỏa sáng trên cuộc đời trần thế của Người. Vinh quang ấy bao trùm Người ngay từ khi Người mới sinh ra (2,9.32). Sự biến hình không phải là việc tham dự trước vào vinh quang Phục sinh cho bằng là sự bộc lộ vinh quang tương lai (Mt- Mc) mà Người đã có ngay từ khi mới được thụ thai bởi vì Người đã sinh ra bởi Thánh Thần (9,32). Vinh quang mà Người sẽ bộc lộ với tư cách là Con Người là vinh quang của Người, thuộc về Người (9,26; so sánh Mt 16,27; Mc 8,26). Mọi người đều chúc tụng Người (4,15) trong khi mà người ta chỉ chúc tụng một mình Thiên Chúa thôi.

              Đức Giêsu là Vua (điều này có lẽ rõ hơn đối với độc giả Hy lạp): sáu lần, Luca là người duy nhất đã nói lên điều đó (1,32-33; 19, 12t. 28t.; 22,28t.67t; 23,40t).

              Luca biết rằng Đức Giêsu đã nắm giữ chức vụ Đức Chúa là Đấng Kitô bằng sự Phục sinh (Cv 2,36); đó là điều có thể, vì chính Người là thế, ngay trong bản thể của Người như các tường thuật thời thơ ấu đã khẳng định. Danh hiệu Con Thiên Chúa không chỉ đơn thuần là nhìn nhận vai trò của Người (tương đương với danh hiệu Con Vua Đavít), nhưng còn là khẳng định bản chất của Người nữa (1,35; 22,70).

THẦN KHÍ ĐỨC GIÊSU

              Từ này chỉ xuất hiện hai lần trong Tân Ước (Cv 16,7 ; Pl 1,19; Thần Khí Đức Kitô trong Rm 9,2 và 1 Pr 1,11). Thánh Thần Thiên Chúa thâm nhập Đức Giêsu sâu đậm đến nỗi có thể gọi Thánh Thần của Đức Giêsu. Đức Giêsu đã được thụ thai bởi quyền năng của Thánh Thần (1,35); Thánh Thần đã biểu hiện trong biến cố Phép Rửa (3,22) và dẫn đưa Đức Giêsu vào sa mạc (4,1); Thánh Thần tấn phong Đức Giêsu để Người trở thành Đấng loan báo Tin Mừng (4,14.18). Chính trong Thánh Thần mà Đức Giêsu hớn hở vui mừng (10,21).

              Nhờ được tôn vinh, Đức Giêsu nhận lãnh Thánh Thần từ Cha để ban lại Thánh Thần cho chúng ta (Cv 2,38), nếu chúng ta cầu xin Người ban cho chúng ta Thánh Thần ấy (Lc 11,13 ; so sánh Mt 7,11). Sách Tông đồ Công vụ xuất hiện như “Tin Mừng của Thánh Thần”, Đấng làm sinh động cộng đoàn Hiện xuống như đã làm sống động Đức Giêsu và những chứng nhân đầu tiên về cuộc sống của Người (Lc 1,15.41.67; 2.25-26).

VỊ NGÔN SỨ
            Đức Giêsu là Ngôn sứ có trách nhiệm mạc khải Thiên Chúa (7, 16.39; 24.19; Cv 3, 22-23) và cái chết của Người là cái chết của Ngôn sứ (13,33; Cv 7,52). Luca trình bày Đức Giêsu như một Eâlia mới .

           Gương mặt của Thiên Chúa mà Đức Giêsu mạc khải trước hết là gương mặt của lòng nhân hậu của người Cha đối với hết mọi người. Đoạn văn chính trong đó Luca trình bày Đức Giêsu như một ngôn sứ (7,11-50) kết thúc bằng ơn tha thứ dành cho người phụ nữ tội lỗi. Tình yêu đến “chạnh lòng” ấy của người Cha (15,20) chính Đức Giêsu đã cảm thấy (7,13) và đó cũng phải là tình yêu của người môn đệ (10,33).

            Đức Giêsu đến chính là Thiên Chúa đến viếng thăm. Từ lời loan báo xét xử nơi các ngôn sứ, cuộc viếng thăm này đã thành nơi Luca Tin Mừng cứu độ, năm hồng ân (4,19; xem 1,68.78; 7,16;19,44). Bằng thái độ của mình, Đức Giêsu làm cho tình yêu của Chúa Cha trở nên hữu hình: Người là bạn của những người thu thuế và tội lỗi (7,34), Người là Đấng cứu độ, giải thoát khỏi Satan đang cầm buộc các tâm hồn và giải thoát khỏi tật nguyền hành hạ các thân xác. Đức Giêsu là bạn của những phường tội lỗi, vì họ cần đến Thiên Chúa, như bệnh nhân cần đến thầy thuốc vậy (5,31). Hơn thế nữa, vì Thiên Chúa cần họ để bộc lộ sự thứ tha (15), Đức Giêsu có một lòng ưu ái lớn lao đối với phụ nữ, là những người bị khinh rẻ thời bấy giờ (Maria, Isave, Anna, Maria Mácđala, Mácta và Maria, những người phụ nữ đi theo Người…); một vài người sẽ đóng vai trò quan trọng trong Hội thánh (Cv 1,14; 12.12 ; 16,14; 21,9…).

ĐỨC GIÊSU LÀ NGƯỜI TRƯỚC MẶT THIÊN CHÚA

                Là Đức Chúa, là Đức Kitô, nhưng Đức Giêsu cũng hoàn toàn là người. Người sống trọn vẹn những điều mình đã loan báo đến mức Người trở thành mô hình của người hoàn hảo, được Thánh Thần biến hình, sống trong vòng tay của Chúa Cha: Lời nói đầu tiên cũng như lời nói cuối cùng của Người là để gọi tên Cha (2,49; 23,46). Người sống liên tục trong sự hiện diện của Cha và lời cầu nguyện của Người nói lên điều đó, chính trong những khi cầu nguyện mà Người tiếp nhận được những mạc khải trọng đại (Phép rửa, Biến hình); Người thức thâu đêm để cầu nguyện (5,16; 6,12; 9,28) và các môn đệ mang ấn tượng mạnh mẽ đến nỗi họ ước mong được đưa vào trong vòng bí mật của mối tương quan đó với Thiên Chúa (Kinh Lạy Cha 11,1).

CHÍNH CON NGƯỜI ĐỨC GIÊSU
              Vì thế chính con người Giêsu là trung tâm của Tin Mừng. Chính trong mối tương quan trực diện với Người mà chúng ta phải chọn lựa. Vì Con Người đầy lòng nhân hậu ấy cũng đòi hỏi thật gắt gao: phải vì Người mà chọn lựa, ngay hôm nay đây, và chỉ vì Người mà thôi; lòng tin tuyệt đối đó lãnh nhận được ơn cứu độ là nguồn suối niềm vui làm cho Tin Mừng toả sáng và người môn đệ được hiển dung rạng ngời.


ĐỨC GIÊSU CỦA GIOAN

                “Điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng ta đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là lời sự sống…” (1 Ga 1,1). Lời tâm sự này đúng là tóm tắt kinh nghiệm của Gioan. Trong đời sống của Phaolô có cái trước và cái sau: từ người bị coi là bịp bợm, Đức Giêsu đã trở thành Chúa của Phaolô. Gioan không hề biết đến cảnh dứt đoạn như vậy. Trong suốt nhiều năm, ngài đã là bạn thân thiết của một con người, của một sứ ngôn, trong Con Người đó, ngài dần dần nhận ra Đức Kitô; sau đêm tử nạn, một cách ngạc nhiên, ngài đã khám phá ra rằng bạn của ngài đã là Con Thiên Chúa, đang là Con Thiên Chúa! và đó chính là nét mâu thuẫn của Đức Giêsu của Gioan: đó là một Con Người rất nhân bản mà người ta nhìn thấy và sờ mó được; nhưng trong Con Người ấy, với con mắt đức tin nơi Con Người ấy, với con mắt Đức tin được Thánh Thần soi sáng, người ta nhận ra mầu nhiệm bất hủ của Ngôi Lời, của Thiên Chúa.

MỘT CON NGƯỜI
            Đức Giêsu của Gioan rất nhân bản; Người có cái thân xác của chúng ta. Mệt mỏi, Người ngồi bên bờ giếng xin nước. Người ta có thể đến chơi với Người vào buổi chiều (1,38; 3;2); Người có nhiều bạn thân là ông Ladarô, bà Mácta và bà Maria; Người biết đến cơn bối rối và đã khóc cho người bạn Ladarô của mình (11,33.35); Người đi dự tiệc cưới (2,1t); Người có thể nổi giận và lật đổ những cái bàn nặng nề của những người buôn bán (2,15).

             Là một nhà tâm lý tinh tế, Người biết cõi lòng con người (2,25). Hết sức kính trọng người khác, Người có thể gợi lại với thiếu phụ Samari đời sống ồn ào của chị mà không làm cho chị cảm thấy bị phê phán, càng không cảm thấy bị kết án, cũng không cư xử khác gì với người phụ nữ ngoại tình. Một con người có thể hé mở cho người khác, dù là người tội lỗi, thấy được cái tốt nhất của chính bản thân họ.

MỘT CON NGƯỜI CỦA THIÊN CHÚA

               Một nhân vật rất thú vị để kiểm chứng: dù người ta đặt với Người câu hỏi nào, Đức Giêsu cũng chỉ có một câu trả lời: Cha. Anh từ đâu đến? – Từ Cha. Anh đi đâu ? –Về cùng Cha. Anh làm gì ? – Tôi thực hiện những công trình của Cha, ý muốn của Cha. Anh nói gì ? – Không nói gì của tôi cả nhưng nói điều tôi đã nhận được từ Cha…. Hơn là những suy luận trừu tượng về Thiên Chúa Ba Ngôi, kiểm chứng này đưa chúng ta vào trung tâm mầu nhiệm của Thiên Chúa. Đức Giêsu cùng lúc hoàn toàn tự do, hoàn toàn là mình, nhưng đồng thời là mối tương quan với Cha, hướng về Cha (1,1).

ĐẤNG MẶC KHẢI THIÊN CHÚA

            Từ đời đời hằng ở nơi Thiên Chúa, là Lời và sự Khôn ngoan của Thiên Chúa, Đức Giêsu biết bí mật của Thiên Chúa và Người đã đến để cho người ta biết bí mật đó. Đức Kitô của Gioan trước tiên là Đấng mặc khải về Chúa Cha cho chúng ta.
Người thực hiện việc mặc khải đó bằng lời nói; có lẽ Người mặc khải nhiều nhất bằng các dấu chỉ, các phép lạ, các hành động và cách sống của Người: “Hỡi anh Philípphê, ai thấy Thày là thấy Chúa Cha” (14,9).

             Người còn mặc khải Chúa Cha bằng cách ban cho chúng ta Thần Khí xuất phát từ cạnh sườn bị đâm thâu (7,38; 19,30.34). Thần Khí có trách nhiệm dẫn chúng ta đến Chân lý toàn vẹn (16,13).

CON NGƯỜI

              Người ta ngạc nhiên khi thấy mình lọt vào trung tâm một vụ án, trong một văn bản rất huyền bí. Những từ có tính pháp luật không ngừng xuất hiện: làm chứng, phân xử, tố cáo, thuyết phục, bênh vực (bảo trợ, bào chữa)… chính là vì Đức Giêsu là Con Người, hình ảnh của Đanien mà người ta trông đợi ở cuối thời gian để phân xử. Với Nicôđem, Đức Giêsu tuyên bố Người là Đấng duy nhất từ trời xuống (3,11-13); Người không muốn làm ông quan toà kết án. Nhưng chỉ muốn là Người Con cứu vớt; nhưng, vì Người là Aùnh sáng, Người bắt buộc kẻ đối thoại phải thể hiện mình ra, phải chọn lựa; Người khơi lên sự phân xử. Nhưng Người đứng về phía kẻ tin như một trạng sư bênh vực.

               Cuộc xử án tiếp tục cho đến tận cùng thế giới, vì thế, Người gởi đến một Đấng bào chữa khác (14,16), là Thần Khí, Đấng có trách nhiệm bênh vực cuộc phân xử ấy nơi lòng kẻ tin (16,7-11).

CON THIÊN CHÚA
               Sau cùng, Đức Giêsu có thể mặc khải Thiên Chúa bởi vì chính Người là Con Thiên Chúa. Công thức “Ta là” rất hiếm trong Tin Mừng nhất lãm lại thường thấy nơi miệng Đức Giêsu của Gioan và hơn nữa đã được sử dụng bốn lần một cách tuyệt đối (8,24.28.58; 13,19). Công thức đó tương đương với Danh của chính Thiên Chúa Giavê (Xh 3,16.14).

ĐỜI SỐNG KẺ TIN

            Đến trong xác phàm chúng ta, Đức Giêsu chỉ có một mục tiêu là phục vụ kẻ tin: Người là kẻ chăn chiên hiến mạng sống mình cho bạn hữu; Người là Aùnh sáng, là Sự Sống lại và là Sự Sống.

Tác giả: Etienne Charpentier
Người dịch : Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

Ngày Đăng:2010-09-01 Lần Xem:1012